Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phật giáo Nam Tông Khmer Nam Bộ phục vụ cộng đồng
10:01 25/03/2013 Lượt xem: 2130 In bài viết
PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER
Trong di sản văn hóa của dân tộc, cùng với tàn dư của Bà la Môn giáo, văn hóa
Phật giáo Nam Tông có một vị trí đặc biệt. Với dân số hiện nay khoảng 1.260.640
người, tập trung chủ yếu ở Tây Nam Bộ và một bộ phận đồng bào dân tộc Khmer sinh
sống tại các tỉnh Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh. Hầu hết các địa bàn có
đông dân tộc Khmer đều có ngôi chùa Phật giáo Nam Tông; hiện nay, với gần 9.000
sư sãi, có khoảng 452 chùa và nhiều salatiên (ở nơi chưa có chùa) là tụ điểm
sinh hoạt cộng đồng, tôn giáo, tổ chức các lễ hội và hoạt động văn hóa của tôn
giáo và dân tộc.
Phật giáo Nam Tông là một bộ phận tinh hoa trong văn hóa Phật giáo, là một phần
tích cực truyền trì tinh thần đạo pháp trong lòng Phật tử khmer Nam Bộ. Từ khi
du nhập vào đời sống đồng bào khmer, Phật giáo với những tư tưởng bình đẳng, bác
ái đã lan tỏa và thẩm thấu trong tâm hồn tính cách của mọi tầng lớp xã hội
Khmer. Phật giáo đã góp phần cấu thành nên sắc thái văn hóa độc đáo riêng và đặt
dấu ấn trên nhiều phương diện như tư tưởng, đạo đức, lối sống, ngôn ngữ, văn học,
lễ hội, giáo dục, kiến trúc, nghệ thuật, sinh hoạt… Với sự du nhập từ khá sớm
trong lòng Phật tử Khmer như vậy, các di sản văn hóa Phật giáo được lưu giữ với
nhiều hình thức khác nhau. Tuy vậy, quá trình bảo tồn, phát huy các giá trị di
sản ấy vẫn chưa được quan tâm đúng mức cả về nhận thức, chủ trương, chính sách
cũng như biện pháp, giải pháp. Việc ứng dụng các thành tựu khoa học, hệ thống
giải pháp đồng bộ chưa được chú trọng dẫn đến thực trạng bức xúc đang diễn ra
ngày càng nhiều.
Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng đã góp phần tích cực
trong việc phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cũng làm cho các nền kinh tế phụ
thuộc lẫn nhau, cùng với sự bùng nổ thông tin truyền thông đang là nguy cơ đồng
dạng hóa các nền văn hóa. Sự đồng dạng hóa ấy dễ theo mô hình văn hóa của những
nước và văn hóa các dân tộc có ưu thế. Nó là một trong những áp lực đối với các
giá trị văn hóa dân tộc Khmer; trong đó, có hệ thống di sản văn hóa Phật giáo đã
và đang có các xu hướng biến đổi, mai một như vết dầu lan, các thực trạng bức
xúc ấy diễn ra trên hệ thống các di sản văn hóa Phật giáo cả vật thể lẫn phi vật
thể.
DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Thiết chế tôn giáo là không gian sinh hoạt chung cho cả cộng đồng. Thế nhưng
hiện nay, công việc trùng tu các công trình chùa vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm
cha truyền con nối và chưa có ghi chép một cách bài bản để lưu truyền đến thế hệ
sau. Đây là vấn đề căn bản để những người chuyên trách trong công tác bảo tồn,
trùng tu di tích phải quan tâm. Bên cạnh đó, hiện tượng hiện đại hóa các công
trình kiến trúc thiếu chú ý đến những di tích có giá trị truyền thống, những chi
tiết trong các di vật gắn với các niên đại hoặc có nơi còn xâm lấn đất chùa đã
và đang diễn ra ở các địa phương... gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác quản
lý, gìn giữ các di tích chùa.
Công tác gìn giữ bảo vật phật giáo còn đơn giản và lỏng lẻo dễ gây ra thất thoát,
chủ yếu dựa vào sự quản lý của nhà chùa. Chưa xây dựng một tiêu chuẩn nhất định
trong việc đánh giá, định hướng gìn giữ các hiện vật quí của phật giáo trước sự
tàn phá của thời gian và môi trường nóng ẩm ở khu vực Nam Bộ.
Các bộ kinh lá cọ là những báo vật vô giá trong hệ thống di sản văn hóa vật thể
của Phật giáo Nam Tông, được chính bàn tay khéo léo của sư sãi, phật tử Khmer
sáng tạo nên, nhưng theo dòng thời gian các bộ kinh lá này dần dần bị hư hỏng.
Việc hư hỏng là do công tác bảo quản các bộ kinh lá cọ còn chưa thực hiện tốt,
phần lớn dựa vào kinh nghiệm bảo quản của chùa là chính. Đặc biệt, qui trình làm
ra một quyển kinh lá dần bị thất truyền trong đời sống văn hóa đồng bào Khmer,
do đến nay vẫn chưa có một tài liệu hay một nghiên cứu nào ghi chép một cách tỉ
mỷ về cách làm.
Những nghệ nhân có kinh nghiệm tạo tác tượng, đắp tượng, điêu khắc, chạm trỗ,
chế tác các công cụ sinh hoạt… hoặc những người có kinh nghiệm trong việc gìn
giữ văn hóa Phật giáo dần già yếu và không có nhiều người kế cận những công việc
này. Đây là một trong những thực trạng đáng báo động đang diễn ra hiện nay trong
cộng đồng người Khmer.
DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
Hàng năm, Phật giáo Nam Tông có rất nhiều ngày lễ được diễn ra như Lễ Phật Đản,
Lễ Nhập Hạ, Lễ Xuất Hạ, Lễ Dâng Y, Lễ An Vị Tượng Phật và Lễ Kết Giới... Qua đó
có thể nhận định rằng, lễ hội giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa
tâm linh của đồng bào phật tử Khmer Nam Bộ, các ngày lễ đã đáp ứng được bốn vấn
đề cơ bản
Một là giải tỏa được về mặt tâm linh.
Hai là giữ gìn truyền thống văn hóa tôn giáo dân tộc.
Ba là giáo dục thế hệ trẻ về ý thức trách nhiệm đối với gia đình và xã hội
Bốn là tạo ra không gian gắn kết cộng đồng vui chơi giải trí sau những ngày lao
động vất vả.
Lễ Phật giáo là sự thử thách quá trình tu đạo của tất cả các vị sư sãi Khmer và
ngôi chùa chính là không gian thiêng thực hành các nghi thức lễ. Mặc dù là những
ngày lễ Phật giáo, nhưng do sự gắn bó của dân tộc Khmer với tôn giáo, nên vai
trò của người dân là vô cùng quan trọng. Đối với họ những ngày lễ Phật giáo là
dịp để họ thể hiện lòng tôn kính của mình đối với đạo Phật. Thế nhưng, trước làn
sóng toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên mọi mặt của đời sống xã hội
và nhiều nguyên nhân khách quan khác nên hiện nay ở các thành phố, thị xã nơi có
chùa Phật giáo Nam Tông, vai trò của những ngày lễ dần bị mai một đi trong thế
hệ thanh thiếu niên người Khmer.
Đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa về các ngày lễ Phật giáo
Nam tông cũng như về ý nghĩa và sức ảnh hưởng của những lễ hội đó đối với đời
sống văn hóa của đồng bào Phật tử Khmer.
Một số lễ hội dân tộc, sinh hoạt cộng đồng, gia đình gắn với văn hóa Phật giáo
cũng đang có nhiều áp lực, làm lu mờ hoặc pha tạp mất đi yếu tố đặc trưng có
tính truyền thống.
Từ thực trạng đó, cho thấy việc nghiên cứu “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Phật giáo Nam tông Khmer Nam Bộ phục vụ cộng đồng” là vấn đề cần thiết trong
giai đoạn hiện nay. Để góp phần nghiên cứu, tôi xin đề xuất một số giải pháp bảo
tồn và phát huy di dản văn hóa Phật giáo Nam Tông Khmer như sau:
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER
Phật giáo Nam tông là chủ thể duy nhất có sứ mệnh truyền trì đạo mạch nối tiếp
lịch sử truyền thống mấy nghìn năm phật giáo đồng hành cùng dân tộc và là bộ
phận cấu thành quan trọng trong nền văn hóa Khmer, góp phần tăng cường đoàn kết
dân tộc và hộ pháp an dân. Trong đó, hệ thống di sản Phật giáo là thành tố đặc
biệt quan trong, mang trong mình sứ mệnh truyền trì đạo pháp đồng hành cùng dân
tộc. Nên công tác bảo tồn là một bài toán khó được đặt ra trong giai đoạn hiện
nay, nếu làm không tốt đôi khi nảy sinh sự phản cảm, sự thiếu tôn trọng đối với
văn hóa tâm linh của phật tử. Vì vậy, trước tiên cần phải có quan điểm, chủ
trương đúng đắn, có nguồn nhân lực được đào tạo đủ năng lực đảm đương nhiệm vụ.
Thực hiện cuộc khảo cứu ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long từ đó vạch ra một lộ
trình chi tiết, bàn bạc kỹ lưỡng có sự tham gia đóng góp ý kiến từ nhiều nhà
khoa học, cơ quan, đơn vị có liên quan. Qua đó, xây dựng kế hoạch cụ thể “cần
bảo tồn cái gì?” những vấn đề gì cần phải bảo tồn ngay và kế hoạch định hướng
lâu dài trong tương lai.
Bảo tồn di sản văn hóa vật thể:
Việc bảo tồn các cơ sở, tự viện, di tích, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
của Phật giáo, dựa trên nguyên tắc cơ bản của luật bảo tồn di sản. Mục đích cơ
bản của công tác bảo tồn là phải đảm bảo tôn trọng sự thật, tôn trọng tính
nguyên bản của nó. Nguyên tắc này đòi hỏi người bảo tồn phải đưa ra các cứ liệu
lịch sử - khoa học phù hợp trước khi tôn tạo công trình.
Mỗi thiết chế tôn giáo là một không gian sinh hoạt chung cho cộng đồng người
khmer, điều nhất thiết ở đây chính là công tác bảo tồn kiến trúc, cảnh quan môi
trường. Xây dựng kế hoạch nghiên cứu cách thức xây dựng, thiết trí chùa chiền
của đồng bào khmer; để từ đó có những định hướng lâu dài đối với công tác duy tu
bảo dưỡng và phát triển một cách hài hòa tối đa đối với các không gian kiến trúc
Phật giáo.
Những ngôi chùa như là một viện bảo tàng thu nhỏ các di sản văn hóa vật thể có
giá trị được lưu giữ đều là tài sản của nhà chùa hoặc của nhân dân Khmer tình
nguyện tích góp dâng chùa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tiêu biểu như hệ thống
kinh lá cọ, tượng phật cổ, các cổ vật, bia đá, công cụ sinh hoạt khác của nhà
Phật, những di vật dưới nền các ngôi chánh điện…. Vì vậy, các tài sản quí giá
này cần có chính sách đặc thù đảm bảo việc lưu giữ tốt hơn tại chùa với sự tham
gia giám sát, hỗ trợ kỷ thuật nghiệp vụ bảo quản thường xuyên để các hiện vật
được đảm bảo tốt nhất.
Bảo tồn hệ thống các ngày lễ Phật giáo được diễn ra trong năm theo giáo luật của
Phật giáo Nam Tông. Việc này đòi hỏi các nhà khoa học có nhiều công trình, đề
tài nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa để góp phần cùng đồng bào gìn giữ nét văn hóa
lễ hội Phật giáo độc đáo của dân tộc. Những lễ hội dân tộc, sinh hoạt cộng đồng
và gia đình gắn với văn hóa Phật giáo cũng cần được nghiên cứu, đánh giá để có
cách bảo tồn và phát huy thích hợp.
Bảo tồn di sản văn hóa Phật giáo chính là bản lề thúc đẩy sự phát triển văn hóa
giáo dục không chỉ riêng cho hiện tại mà là cả tương lai con em người Khmer ở
Nam Bộ. Vì vậy, để công tác bảo tồn đạt hiệu quả tốt cần phải có những chuyên
trang hay tạp chí về di sản văn hóa Phật giáo Nam tông để từ đó mọi người có thể
biết tìm tòi nghiên cứu phát triển. Bên cạnh đó, phải xây dựng đội ngũ cán bộ có
trình độ năng lực am hiểu văn hóa, chữ viết của đồng bào để việc bảo tồn có thể
tạo được hiệu ứng tích cực và lâu dài. Đồng thời, nâng cao trình độ am hiểu về
giá trị của hệ thống di sản văn hóa Phật giáo đối với các bậc sư sãi, acha và
người dân để công tác bảo tồn được thực hiện một cách tích cực và đi vào chiều
sâu. Quan trọng nữa, là phải tạo được sự đồng thuận, nâng nhận thức và sự ủng hộ
của người dân trong phum sroc và đặc biệt là từ phía các vị sư sãi người chuyên
chở con đò Phật giáo Nam Tông.
Phát huy các giá trị di sản văn hóa Phật giáo đến với cộng đồng:
Vấn đề phát huy cũng cần được tập trung xác định nhiệm vụ trọng tâm, “Cần phát
huy cái gì?” cốt lõi của việc phát huy đó sẽ mang lại những gì đối với cộng đồng,
nếu phát huy tốt giá trị tích cực các di sản văn hóa Phật giáo sẽ góp phần làm
cho công tác bảo tồn được thực hiện tốt hơn, tỏa sáng hơn.
Phát huy vai trò di sản văn hóa Phật giáo chính là phát huy tinh thần giáo dục,
nên cần chủ động phát huy đường hướng tốt đẹp của giáo lý nhà Phật, các tập tục
tốt đẹp của Phật tử (đi chùa lễ Phật, tham gia thực hiện các lễ lớn Phật giáo,
thờ Phật, dâng cúng dường…). Khuyến khích, nêu gương về nếp sống đẹp, các đức
tính tốt (hòa thuận, hiếu để, từ bi, hỷ xả, nhân ái…). nhằm góp phần xây dựng
lối sống tốt đời, đẹp đạo trong cộng đồng dân tộc.
Tạo điều kiện tốt nhất, để bà con Khmer Nam Bộ phát huy ý thức, trách nhiệm của
bản thân đối với hệ thống các thiết chế văn hóa, các ngày lễ Phật giáo, các tập
tục….. Để từ đó, góp phần lan tỏa các giá trị tích cực trong đời sống của đồng
bào Khmer Nam bộ.
Phát huy năng lực cán bộ làm công tác nghiên cứu, duy tu bảo tồn các di sản văn
hóa. Bên cạnh đó, phát huy tinh thần ý thức trách nhiệm của người làm công tác
duy tu tôn tạo các sản phẩm văn hóa tôn giáo để tạo điều kiện cho việc phát
triển một cách tốt nhất.
Về các phương tiện truyền thông đại chúng cần phát huy vai trò tích cực của mình
để người dân tiếp cận các nguồn thông tin bổ ích, góp phần hữu hiệu cho việc bảo
tồn và phát huy di sản văn hóa Phật giáo Nam tông.
Tích cực chủ động phát huy hết công năng của các thiết chế tôn giáo, các sinh
hoạt lễ độc đáo của Phật giáo, đây không chỉ với nhiệm vụ truyền trì đạo pháp
dân tộc mà nó còn phải mang yếu tố văn hóa - lịch sử - du lịch góp phần quảng bá
hình ảnh về văn hóa tôn giáo Khmer đến với du khách trong và ngoài nước.
Từ thực trạng trên, có thể khẳng định: Phật giáo đã cùng đồng hành và có sứ mệnh
vô cùng cao cả trong đời sống tâm linh của đồng bào Phật tử Khmer, việc bảo tồn
và phát huy hiệu quả di sản văn hóa Phật giáo này không chỉ cho hôm nay mà còn
đến các thế hệ mai sau. Chúng ta cần xử lý tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát
huy, việc bảo tồn và phát huy như một cặp phạm trù giống như việc xây dựng và
phát triển văn hóa. Mà văn hóa chính là linh hồn là mạch sống của dân tộc, được
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chỉ bảo tồn để tồn tại đơn thuần,
không phát huy được giá trị ẩn chứa trong di sản, rồi thời gian sẽ làm di sản
phai mờ và nhanh chóng đi vào quên lãng. Vì vậy, việc khai thác giá trị các di
sản được phát huy tích cực thì mới có cơ sở, có căn cứ và làm điều kiện đảm bảo
để bảo tồn di sản văn hóa Phật giáo khmer phục vụ cộng đồng một cách bền vững.
Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phật giáo Khmer Nam Bộ phục vụ cộng
đồng nên được coi là một hoạt động khoa học, đòi hỏi sự am hiểu chuyên sâu về
văn hóa Phật giáo, phải có sự phối hợp liên ngành và phải tuân thủ những nguyên
tắc cao nhất của bảo tồn là giữ được tính nguyên gốc của di sản gắn với những
điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội cụ thể. Việc bảo tồn và phát huy các di sản
không bao giờ là một vấn đề dễ dàng và thuận lợi. Vì vậy, phải xác định đây là
một công việc thường xuyên, lâu dài và luôn đòi hỏi ý thức trách nhiệm, sự tham
gia tích cực to lớn từ phía các cơ quan, tổ chức có liên quan và cả tập thể cộng
đồng.
Bảo tồn, phát huy văn hóa của dân tộc gắn với di sản văn hóa Phật giáo Nam Tông
Khmer cũng là góp phần bảo tồn, phát huy di sản văn hóa chung của dân tộc Việt
Nam. Nên việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Phật giáo Nam Tông Khmer cần
được đặt trong mối quan hệ giữa các dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng trên địa
bàn và trong cả nước.
SƠN CHANH ĐA
Đại học Cần Thơ